Run

Tác giả: Bích Ngọc Ngày đăng: 05/07/2024

Tai biến mạch máu não là một trong những căn bệnh phổ biến gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe mà rất nhiều người gặp phải đặc biệt là người lớn tuổi. Vì vậy để có cách phòng ngừa căn bệnh này hiệu quả chúng ta cần phải tìm hiểu, nắm rõ về các giai đoạn của bệnh. Bài viết dưới đây là những thông tin cần thiết Run Mời các bạn cùng theo dõi.

1. Run có thể là

  • Bình thường (sinh lý)

  • Bệnh học

Run sinh lý, thường khó nhận biết, trở nên đáng chú ý ở nhiều người khi họ có những stress thực thể hoặc tâm lý. Khi nhìn thấy được, tình trạng run này được gọi là run sinh lý tăng cường.

Run khác nhau ở

  • Mô hình diễn biến (ví dụ, ngắt quãng, liên tục)

  • S Mức độ nghiêm trọng

  • Độ cấp tính (ví dụ, dần dần, đột ngột)

Mức độ run có thể không liên quan đến mức độ của bệnh lý tiềm ẩn. Ví dụ: run vô căn thường được coi là lành tính và không rút ngắn tuổi thọ, nhưng các triệu chứng có thể gây tàn tật.

2. Sinh lý bệnh của run

Các tổn thương khác nhau ở thân não, hệ ngoại tháp hoặc tiểu não có thể gây run. Chấn thương, thiếu máu cục bộ, rối loạn chuyển hóa, hoặc bệnh lý thoái hóa thần kinh gây ra rối loạn chức năng hoặc thoái hóa thần kinh dẫn đến run. Đôi khi run là một bệnh lý mang tính gia đình (ví dụ, run vô căn).

3. Phân loại

Run được phân loại chủ yếu dựa trên hoàn cảnh xuất hiện:

  • Run khi nghỉ ngơi 

  • có thể nhìn thấy được khi nghỉ ngơi và xảy ra khi một bộ phận cơ thể được hỗ trợ hoàn toàn. Triệu chứng này diễn ra kín đáo hoặc biến mất hoàn toàn khi vận động. Cơn run kiểu Parkinson cổ điển (cơn run khi nghỉ phổ biến nhất) là 3 đến 6 chu kỳ/giây (hertz [Hz]).

  • Run động trạng

  •  quan sát rõ nhất khi vận động hữu ý một phần cơ thể. Run rẩy khi hành động có thể thay đổi hoặc không thay đổi mức độ nặng khi đạt được mục tiêu; các cơn run này có thể xảy ra theo các tần số khác nhau. Run khi hành động có thể được chia thành run do tư thế và run do động học.

  • Run do tư thế 

  • xảy ra khi một chi được giữ ở một vị trí cố định chống lại trọng lực (ví dụ: khi giữ cánh tay dang rộng). Run do tư thế có thể thay đổi tùy theo tư thế cụ thể.

  • Run do động học

  •  xảy ra trong quá trình chuyển động có chủ ý và có thể được chia thành run do động học đơn giản và run có chủ ý. Run do động học đơn giản có cùng tần số và biên độ trong suốt quá trình cử động. Run có chủ ý có cường độ cao dần và tăng lên khi phần cơ thể bị ảnh hưởng đạt được mục tiêu.

4. Run phức hợp có thành phần gồm nhiều loại run.

Run cũng có thể được phân loại dựa trên

  • Sinh lý (trong phạm vi bình thường)

  • Bệnh lý nguyên phát (run vô căn, bệnh Parkinson)

  • Thứ phát sau một bệnh lý nào đó (ví dụ đột quỵ)

Run thường được mô tả dựa trên tần số dao động (nhanh hoặc chậm) và biên độ vận động (tinh [biên độ thấp] hoặc thô [biên độ cao]).

5. Nguyên nhân của run

Run sinh lý xảy ra ở những người khỏe mạnh. Đây là tình trạng run động trạng hoặc run tư thế đối xứng trên cả hai tay; biên độ thường mềm mại. Nó thường chỉ trở nên đáng kể khi có mặt các yếu tố gây stress. Các stress này bao gồm

  • Lo lắng

  • Mệt mỏi

  • Tập thể dục

  • Thiếu ngủ

  • Cai rượu hoặc cai một số loại thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương (CNS) khác (ví dụ: benzodiazepin, opioid)

  • Một số bệnh lý gây triệu chứng run (ví dụ, cường giáp)

  • Tiêu thụ caffeine hoặc các loại thuốc bất hợp pháp như là cocaine, amphetamine hoặc phencyclidine

  • Sử dụng một số loại thuốc, chẳng hạn như theophylline, thuốc chủ vận beta-adrenergic, corticosteroid và valproate

6. Một số nguyên nhân gây run

Thuốc có thể gây ra hoặc làm trầm trọng thêm các loại run khác nhau. Thuốc an thần liều thấp (ví dụ như rượu) có thể làm ức chế một số loại run (ví dụ, run vô căn và run sinh lý); liều cao hơn có thể gây ra hoặc làm trầm trọng thêm cơn run.

7. Đánh giá run

Vì chẩn đoán run chủ yếu dựa vào lâm sàng, nên cần phải khai thác tiền sử và khám lâm sàng tỉ mỉ.

  • Tính chất khởi phát (ví dụ, dần dần, đột ngột)

  • Tuổi khởi phát

  • Phần cơ thể bị ảnh hưởng

  • Các yếu tố khởi phát (vận động, nghỉ ngơi, đứng dậy)

  • Yếu tố giảm bớt hoặc tăng nặng triệu chứng (ví dụ: cồn, caffein, căng thẳng, lo lắng)

Nếu khởi phát đột ngột, bệnh nhân cần phải được hỏi về các yếu tố có thể gây ra (ví dụ: chấn thương hoặc bệnh tật gần đây, sử dụng một loại thuốc mới).

8. Khám thực thể

Ngoài việc khám thần kinh toàn diện, khám tập trung cần lưu ý sự phân bố và tần suất run trong khi

  • Phần chi thể có run ở trạng thái nghỉ và thả lỏng hoàn toàn (ví dụ, dái tai của bệnh nhân).

  • Bệnh nhân giữ một số tư thế nhất định (ví dụ, giữ tay duỗi ra).

  • Đi lại hoặc làm các động tác với phần cơ thể bị ảnh hưởng.

Người khám nên lưu ý xem run có thay đổi hay không khi thực hiện các thao tác gây phân tâm (ví dụ, 100 trừ 7 nối tiếp). Quan sát chất lượng của giọng nói khi bệnh nhân đọc một đoạn dài.

9. Các dấu hiệu cảnh báo

Những phát hiện sau đây cần được quan tâm đặc biệt:

  • Khởi phát đột ngột

  • Khởi phát ở người < 50 tuổi và không có tiền sử gia đình run lành tính

  • Các tổn thương thần kinh khác (ví dụ như thay đổi trạng thái tinh thần, liệt vận động, liệt thần kinh sọ, thất điều dáng đi, loạn vận ngôn)

  • Nhịp nhanh và kích động

10. Loại run và khởi phát l

  • Run lúc nghỉ 

  • thường chỉ ra bệnh Parkinson, đặc biệt là run một bên hoặc khi run khu trú ở cằm hoặc ở chân.

  • Run chủ ý

  •  gợi ý bệnh lý tiểu não,

  • Run tư thế 

  • gợi ý căn nguyên run sinh lý hoặc run vô căn nếu khởi phát tăng dần; nó cũng có thể gợi ý bệnh lý chuyển hóa hoặc nhiễm độc nếu khởi phát đột ngột.

 

11. Một số đặc điểm phân biệt bệnh Parkinson với run vô căn

Những triệu chứng sau có thể giúp gợi ý căn nguyên của run:

  • Run chức năng

  • được đặc trưng bởi khởi phát nhanh chóng, với tần số và sự phân bố, sự lôi cuốn và mất tập trung thay đổi. Tình trạng run này trước đây được gọi là run do tâm thần, mặc dù bệnh tâm thần không cần thiết để chẩn đoán.

  • Run tiến triển

  • từng nấc gợi ý bệnh lý nhồi máu hoặc xơ cứng rải rác

  • Run xuất hiện

  • sau khi sử dụng một loại thuốc mới cho thấy nguyên nhân là do thuốc đó.

  • Khởi phát run

  • kèm nhịp kích động, nhịp tim nhanh, và tăng huyết áp trong vòng 24 đến 72 giờ sau nhập viện có thể gợi ý đến hội chứng cai rượu, một loại thuốc an thần khác hoặc sử dụng chất kích thích bất hợp pháp.

12. Xét nghiệm

Ở phần lớn bệnh nhân, tiền sử và khám lâm sàng là đủ để xác định căn nguyên của run. Tuy nhiên, MRI hoặc CT não nên được thực hiện nếu

  • Khởi phát run cấp tính.

  • Tiến triển rất nhanh.

  • Các dấu hiệu thần kinh khu trú gợi ý một tổn thương cấu trúc (ví dụ, đột quỵ, u não, rối loạn thoái hóa myelin).

  • Hormon kích thích tuyến giáp (TSH) và thyroxine (T4) để đánh giá tình trạng cường giáp.

  • Canxi và hóc môn tuyến cận giáp được đo để kiểm tra bệnh cường cận giáp hoặc suy tuyến cận giáp.

  • Xét nghiệm glucose để loại trừ tình trạng hạ đường huyết.

Chi tiết xem thêm tại: >>> BENCEDA - Tăng cường chức năng não - Hộp 60 viên

Công dụng của BENCEDA:

+ Giúp cho bộ não hoạt động hiệu quả nhanh chóng, học nhanh hơn và củng cố bộ nhớ hiệu quả hơn, giảm căng thẳng, áp lực trong công việc.

+ Hỗ trợ hoạt huyết, tăng tuần hoàn não, cải thiện chức năng của não.

+ Hỗ trợ giảm các triệu chứng do thiểu năng tuần hoàn não

+ Hỗ trợ phục hồi sau tai biến mạch máu não.

+ Hỗ trợ điều trị rối loạn tiền đình

+ Phòng ngừa các chứng rối loạn trí nhớ bao gồm Alzheimer.

Đối tượng sử dụng:

+ Người bị thiểu năng tuần hoàn não có các triệu chứng đau đầu, chóng mặt, hoa mắt.

+ Người bị suy giảm trí nhớ, rối loạn tiền đình, tê bì chân tay.

+ Người sau tai biến mạch máu não do tắc mạch.

+ Người bị bệnh rối loạn trí nhớ Alzheimer.

Trên đây là toàn bộ thông tin hữu ích về Run Hy vọng rằng bài viết sẽ giúp được các bạn trong việc phát hiện và phòng ngừa căn bệnh nguy hiểm này 

Bạn đang xem: Run
Bài trước Bài sau
hotline 096.284.7373 hotline 0243.686.5568
popup

Số lượng:

Tổng tiền: